Tên chính thức: Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ

Dân số: 324, 057, 300

Hình thức Chính phủ: Hiến pháp dựa trên nền cộng hòa liên bang

Thủ đô: Washington, D.C.

Diện tích: 9, 826, 630 km vuông

Các dãy núi chính: Dãy núi Rocky, Dãy Appalachia

Sông chính: Mississippi, Missouri, Colorado

Ngôn ngữ: tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha

Tiền tệ: Đồng đô la Mỹ

Địa lý Hoa Kỳ

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (thường được gọi là Hoa Kỳ, hay đơn giản là USA) là nước lớn thứ ba trên thế giới về quy mô (sau Nga và Canada) và đứng thứ ba về dân số (sau Trung Quốc và Ấn Độ). Nằm ở Bắc Mỹ, quốc gia này giáp với phía tây bởi Thái Bình Dương, và về phía đông của Đại Tây Dương. Dọc theo biên giới phía bắc là Canada, và dọc theo biên giới phía nam là Mexico. Có 50 tiểu bang và District of Columbia.

Hơn hai lần kích thước của Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ có những ngọn núi cao ở phía Tây và một đồng bằng rộng lớn, ở miền trung. Điểm thấp nhất  nằm ở thung lũng Chết (Death Valley), nơi thấp hơn mực nước biển 86m, và đỉnh cao nhất là ngọn núi McKinley,  cao 6.198m.

Cảnh quan, động vật hoang dã và thiên nhiên của Hoa Kỳ

Phong cảnh khác nhau trên khắp đất nước rộng lớn này – từ những bãi biển nhiệt đới Florida đến những đỉnh núi tuyết của Dãy núi Rocky, từ các vùng đất hoang mạc và vùng sa mạc cằn cỗi ở phía tây đến những vùng đất hoang vu dày đặc ở phía bắc. Xen kẽ là hồ: Great Lakes, Grand Canyon; thung lũng Yosemite hùng vĩ và Sông Mississippi rộng lớn.

Động vật hoang dã cũng đa dạng như cảnh quan. Động vật có vú như Buffalo Mỹ đã từng đi lang thang khắp vùng đồng bằng, nhưng ngày nay chỉ có thể tìm thấy ở các khu vực được bảo tồn. Các loài ăn thịt lớn nhất là gấu đen, grizzlies và thậm chí cả gấu trắng Bắc cực, sống ở cực bắc của Alaska.

Hoa Kỳ chú trọng  đến việc chăm sóc và bảo tồn động vật hoang dã, với gần 400 khu vực được bảo vệ và duy trì bởi dịch vụ: Vườn quốc gia và nhiều công viên khác trong mỗi tiểu bang. Đại bàng hói, ngày nay là loài được bảo vệ, là loài chim và biểu tượng quốc gia của Hoa Kỳ.

Lịch sử Hoa Kỳ

 

Trong nhiều thế kỷ, người dân bản địa sống trên khắp vùng rộng lớn mà ngày nay trở thành Hoa Kỳ. Vào đầu thế kỷ 17, những người định cư chuyển từ châu Âu sang thế giới mới, thành lập các thuộc địa và di dời dân bản địa.

Những người định cư đã chiến đấu giành độc lập từ Anh Quốc vào cuối thế kỷ 18 và hình thành nên một liên minh các bang dựa trên một hiến pháp mới. Quốc gia tiếp tục mở rộng về hướng tây và, mặc dù đất nước này là một quốc gia tương đối trẻ, nhưng nó đã trở thành một quốc gia quyền lực toàn cầu kể từ khi tuyên bố độc lập khỏi Anh Quốc vào ngày 4 tháng 7 năm 1776.

Con người và văn hoá của Hoa Kỳ

Trong suốt chiều dài lịch sử, Hoa Kỳ đã là một quốc gia của người nhập cư. Dân số đa dạng với người dân từ khắp nơi trên thế giới tìm kiếm nơi ẩn náu và cách sống tốt hơn. Đất nước được chia thành sáu vùng – New England, giữa Đại tây dương, Nam, Trung-Tây, Tây Nam và Tây.

Những người định cư ở Châu Âu đến New England để tìm kiếm tự do tôn giáo. Các tiểu bang này là Connecticut, Maine, Massachusetts, New Hampshire, Rhode Island và Vermont.

Khu vực trung tâm Đại Tây Dương bao gồm Delaware, Maryland, New Jersey, New York, Pennsylvania và thành phố Washington, DC. Những khu vực công nghiệp này đã thu hút hàng triệu người nhập cư Châu Âu và làm dấy lên một số thành phố lớn nhất của East Coast – New York, Baltimore Và Philadelphia.

Phía Nam bao gồm Alabama, Arkansas, Florida, Georgia, Kentucky, Louisiana, Mississippi, Bắc Carolina, Nam Carolina, Tennessee, Virginia và West Virginia. Các quốc gia này đều phải vật lộn trong những năm sau cuộc nội chiến Hoa Kỳ, kéo dài từ 1860-1865.

Miền Trung-Tây là quê hương của vùng đất nông nghiệp của đất nước và được gọi là “giỏ bánh mì” của quốc gia. Khu vực này bao gồm các tiểu bang Illinois, Indiana, Iowa, Kansas, Michigan, Minnesota, Missouri, Nebraska, North Dakota, Ohio, South Dakota và Wisconsin.

Phía Tây Nam là một cảnh quan tuyệt đẹp của đồng cỏ và sa mạc. Các tiểu bang Arizona, New Mexico, Oklahoma và Texas được coi là vùng Tây Nam, là nơi có những tuyệt vời tự nhiên tuyệt vời của thế giới, bao gồm Grand Canyon và Carlsbad Caverns.

Miền Tây Hoa Kỳ, vùng đất cao nguyên cao nguyên và đồng bằng cán, là biểu tượng của tinh thần tiên phong của Hoa Kỳ. Phía Tây là rất đa dạng, từ hoang vắng vô tận đến sa mạc khô cằn, rặng san hô đến vùng Bắc Cực, Hollywood đến Yellowstone National Park. Các tiểu bang phương Tây bao gồm Alaska, Colorado, California, Hawaii, Idaho, Montana, Nevada, Oregon, Utah, Washington và Wyoming.

Chính phủ và nền kinh tế Hoa Kỳ

Công dân trên 18 tuổi bỏ phiếu bầu Chủ tịch và Phó Tổng thống Hoa Kỳ bốn năm một lần. Tổng thống sống trong Nhà Trắng ở thủ đô Washington, D.C.

 

Chính phủ tạo ra luật pháp của quốc gia, kiểm soát tiền và quyết định nếu Hoa Kỳ nên chiến tranh được gọi là Quốc hội. Có hai cơ quan của Quốc hội – Thượng viện và Hạ viện. Thượng viện có 100 thành viên, hai thành viên từ mỗi 50 tiểu bang, và mỗi nhiệm kỳ sáu năm. Hạ viện được tạo thành từ 435 đại diện, những người phải được bầu mỗi hai năm một lần.

Tòa án tối cao là chi nhánh của chính phủ nắm pháp luật của Hoa Kỳ. Đây là tòa cao nhất trong nước và gồm chín thẩm phán, mỗi người đều được tuyển chọn bởi tổng thống và phải được Quốc hội thông qua.

Tiến bộ trong hàng trăm năm qua đã hình thành nước Mỹ như một nhà lãnh đạo thế giới về mặt kinh tế, quân sự và công nghệ. Xuất khẩu quan trọng của Hoa Kỳ bao gồm các sản phẩm dầu mỏ, máy bay, phụ tùng xe và thiết bị y tế, và hàng nhập khẩu lớn của nước này bao gồm ô tô, máy móc công nghiệp, máy tính và dầu thô.

Nếu nói về nước Mỹ là nói đến sự thay đổi không ngừng. Tinh thần tiên phong của đất nước được phản ánh trong cái nhìn táo bạo và bản chất luôn phát triển bao trùm tất cả trên mọi lĩnh vực, mọi nơi trên đất Mỹ: Từ tòa nhà chọc trời ở New York đến những ngôi sao của Hollywood và thậm chí vượt ra ngoài vũ trụ là người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng. Dưới đây là 18 điều bạn cần biết để khám phá  ở Mỹ.

  1. Nước Mỹ rộng lớn – 3,8 triệu dặm vuông.

Nếu đi bằng máy bay, thời gian để bay từ NYC đến LA tương đương với thời gian bay tới London.

  1. Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ – hãy nhớ rằng có năm mươi bang.

“Is it called soda, pop or soft drink? A subway sandwich, hoagie, hero or grinder?” Phụ thuộc vào quốc gia bạn đến. Sự khác biệt khu vực trên khắp Hoa Kỳ thể hiện ở các phát âm, thực phẩm, đồ uống, luật pháp và chính trị. Không có gì ngạc nhiên khi một trong những tính năng được đọc nhiều nhất của tờ New York Times là về cách phát âm.

3. Mọi Thứ Đều Có Sẵn 24/7

Mỹ là một quốc gia không bao giờ ngủ: bạn có thể đi mua sắm vào những giờ kỳ quặc nhất giữa đêm – và dừng lại tại một hiệu thuốc bên đường. Và nó vẫn mở. Đó thực sự là thiên đường của những tín đồ mua sắm không ngừng nghỉ. Vì vậy, hãy cẩn trọng với túi tiền của mình khi du học Mỹ nhé.

4. Các vườn quốc gia rất ngoạn mục

Các công viên quốc gia của Mỹ – có tổng diện tích trên 84 triệu mẫu Anh trên khắp mọi bang – có nhiều sự so sánh nhất: Điểm thấp nhất ở Bán cầu Tây (Death Valley California); Điểm cao nhất ở Bắc Mỹ (Mount McKinley ở Vườn Quốc gia Denali, Alaska); Hệ thống hang động dài nhất trên thế giới (Công viên Quốc gia Hang Mammoth, Kentucky); Và các cồn cát thạch cao lớn nhất trên thế giới (Khu bảo tồn Quốc gia White Sands, New Mexico).

5. Lễ hội cho mọi thứ: Như mạo hiểm đường phố, nấm, tỏi – bạn có thể đặt tên cho nó:

Mỹ là đất nước của những lễ hội kỳ diệu và tuyệt vời, từ Lễ hội Chainsaw Carving (Pennsylvania) đến lễ hội Testicle (Montana). Thêm vào đó, các hội chợ công cộng là một thương hiệu đặc biệt riêng của họ về sự kỳ lạ, nơi bạn có thể tìm thấy  tất cả mọi thứ từ: Twinkies, bơ, tai heo, bánh mì kẹp thịt trắng, bong bóng, Kool Aid và bia …

6. Người Mỹ thân thiện không kém

Nhưng đó có thể là một phương thức giao tiếp hơn là đặc điểm tính cách. Một câu nói “Bạn khoẻ không?” Không nhất thiết phải được trả lời. Và, “Có một ngày tốt lành!” Phổ biến thường chỉ là một cách khác để nói tạm biệt (và có lẽ nhận được một cái chạm tay …).

7. Nói về tiền TIP, người Mỹ cho một cách rộng rãi

Chính thức: Tipping là hoàn toàn tự nguyện. Không chính thức: 15% đến 20% trong các nhà hàng tiêu chuẩn, với mức lương tối thiểu thấp và tiền tipping là cần thiết.

8. You can always Supersize It!

Not only does fast food still dominate large tracts of the culinary landscape, but it has given rise to such intellectually stimulating phrases as, “Supersize it!” “Where’s the beef?” and “Do you want fries with that?” When in doubt, say yes. All that said, Americans work out with equal fervor – the US consistently tops the list of countries that exercise the most.

9. But the US also excels at wildly innovative, gourmet cuisine…

San Francisco and New York regularly show up on the top lists for number of Michelin stars, and celebrity chefs rival Hollywood royalty, with big names like Mario Batali, Wolfgang Puck, Anthony Bourdain and Rachael Ray spawning multimedia empires, with dozens of restaurants, books, TV shows, films and more.

10. New York is not the centre of the universe

Unless you’re talking to a New Yorker, in which case it is.

11. Los Angeles is not the centre of the universe

Unless you’re talking to an Angeleno, in which case it is.

12. Regional stereotypes abound

The laidback Californian? The “welcome, y’all” Southerner? The headstrong New Yorker? According to a study reported by Time magazine, yes, yes and yes. The study divided the US into three key regions: the New England and the Mid-Atlantic states, which were termed “temperamental and uninhibited;” the South and Midwest, called “friendly and conventional;” and the West Coast, Rocky Mountains and Sun Belt – “relaxed and creative.”

13. Montana has three times as many cows as it does people

The east and west coasts get much of the attention, but the US’s rolling interior encompasses ocean-sized expanses of farmland. In some circles, it’s called “flyover country” for the reasons you’d think.

14. The US doesn’t use the brilliantly logical metric system like the rest of the world

Height is measured in feet; football fields in yards; distances in miles. Though the “use of the metric system has been sanctioned by law in the US since 1866” according to the CIA website, widespread use has been slow, to say the least. The US isn’t entirely alone: two other countries also don’t use the metric system – Myanmar and Liberia.

15. America’s car culture is unrivalled

A quintessential American experience? Throttling down the highway, the wind in your air and the road ribboning behind you. Though the country’s car culture has waned since its heyday in the ‘50s and Mustang-era ‘60s, the car is still the dominant force in transport – and seeps into every facet of culture, including music: Life is a Highway, Route 66, Born to be Wild, Pink Cadillac, and so on.

16. Baseball is America’s pastime

The rest of the world has soccer. America has baseball. During baseball season – April to September – there are few more classic American experiences than cheering on your favorite team (go, Yankees!) under the warm spring sunshine, enjoying a hot dog and beer (or five).

17. Relatively speaking, the US is just a toddler

Native Americans arrived more than a thousand years ago, but the formation of the United States is just a couple of hundred of years old – the US celebrated 239 years on July 4, 2015.

18. The American Dream is still going strong

No, the streets aren’t paved with the gold but the belief in the American Dream? Still going strong (especially if your last name is Rockefeller).

Giới thiệu về Hệ thống Giáo dục Mỹ

Hệ thống giáo dục Mỹ có nhiều lựa chọn ngành học cho sinh viên quốc tế. Sự phong phú về trường, chương trình học và địa điểm mang đến cho sinh viên nhiều lựa chọn nhưng nhiều khi cũng sẽ khó quyết định, thậm chí đối với cả sinh viên Mỹ. Khi bắt đầu lựa chọn trường học, điều quan trọng là phải tìm hiểu kỹ hệ thống giáo dục Mỹ. Hiểu biết về hệ thống giáo dục Mỹ sẽ giúp sinh viên đưa ra được những lựa chọn đúng đắn và phát triển kế hoạch học tập của mình.

Hệ thống Giáo dục

Bậc Tiểu học và Trung học

Trước khi học chương trình giáo dục bậc cao, học sinh Mỹ có 12 năm học tiểu học và trung học, chương trình từ lớp một cho tới lớp mười hai. Khi sáu tuổi, học sinh Mỹ bắt đầu vào học tiểu học. Sau năm hoặc sáu năm tiểu học sẽ tiếp tục học lên trung học.

Bậc trung học gồm có hai chương trình: một là “trường trung học bậc giữa” hay “trung học cơ sở” và hai là “trường trung học”. Bằng tốt nghiệp sẽ được cấp sau khi tốt nghiệp trung học. Sau khi tốt nghiệp trung học (12 năm), sinh viên Mỹ có thể học lên đại học hoặc cao đẳng. Trường Cao đẳng hoặc Đại học còn được gọi là “giáo dục bậc cao”.

Hệ thống Điểm

Giống như sinh viên Mỹ, sinh viên quốc tế sẽ phải nộp bảng điểm trong quá trình nộp đơn vào trường cao đẳng hoặc đại học. Bảng điểm là văn bản chính thức kết quả học tập của sinh viên. Tại Mỹ, bảng điểm bao gồm cả “điểm” và “điểm trung bình” (GPA), là kết quả học tập sinh viên đạt được. Các khóa học thường được tính điểm theo tỷ lệ phần trăm và sau đó được chuyển đổi ra điểm.

Hệ thống điểm và điểm trung bình GPA tại Mỹ có thể không dễ hiểu đặc biệt đối với sinh viên quốc tế. Có nhiều cách giải thích cách tính điểm này. Ví dụ, hai sinh viên học tại hai trường khác nhau cùng nộp bảng điểm cho một trường đại học. Cả hai sinh viên đều có số điểm trung bình là 3.5, nhưng một sinh viên học trường trung học bình thường và sinh viên kia học trường trung học danh tiếng với nhiều áp lực học tập hơn. Trường đại học có thể diễn giải điểm trung bình GPA của hai sinh viên này khác nhau vì hai trường trung học có tiêu chí hoàn toàn khác nhau.

Vì vậy, cần lưu ý một vài điều quan trọng sau:

  • Sinh viên nên lựa chọn trường tại Mỹ phù hợp với trình độ học vấn trong nước tại thời điểm tìm trường.
  • Tìm hiểu kỹ yêu cầu tuyển sinh tại trường đại học và cao đẳng cũng như từng chương trình cấp bằng vì có thể có những yêu cầu khác nhau.
  • Thường xuyên liên lạc với tư vấn giáo dục hoặc người hướng dẫn của trường để cập nhật thông tin tuyển sinh. Lịch họcỞ một số trường, năm học gồm có hai kỳ hay còn gọi là “semesters.” (Một vài trường có lịch học ba kỳ, hay còn gọi là “trimester”) Ngoài ra, có một số trường theo hệ thống quý gồm bốn kỳ, bao gồm cả kỳ mùa hè không bắt buộc. Thông thường, nếu không tính kỳ mùa hè, một năm học sẽ gồm có hai semester hoặc ba quarter. Cấp bậc đầu tiên: Đại HọcHai năm đầu, sinh viên sẽ phải học rất nhiều khóa học khác nhau, thường được biết đến như các khóa học cơ bản: văn học, khoa học, khoa học xã hội, nghệ thuật, lịch sử và nhiều môn học khác. Điều này giúp sinh viên tích lũy kiến thức nền tảng chung phong phú trước khi tập trung học môn chính. “Môn chính” là ngành học mà sinh viên lựa chọn. Ví dụ, ngành học chính của sinh viên là báo chí, sinh viên sẽ lấy bằng cử nhân báo chí. Sinh viên sẽ phải học một vài khóa học bắt buộc cho ngành học để đáp ứng yêu cầu của ngành đó. Sinh viên phải lựa chọn ngành học chính khi bắt đầu học năm thứ ba tại trường. Cấp bậc thứ hai: Sau Đại học lấy bằng Thạc sỹ Hiện nay, sinh viên tốt nghiệp đại học với tấm bằng cử nhân có thể thực sự muốn học lên cao học để nâng cao trình độ và phát triển nghề nghiệp. Bằng cấp này là cần thiết cho các vị trí chủ chốt trong khoa học thư viện, kỹ thuật, hành vi sức khỏe và giáo dục. Chương trình cao học thường do một phòng ban ở trường đại học quản lý riêng. Để được nhận học, sinh viên cần phải có điểm GRE (graduate record examination). Chương trình cao học khác có thể yêu cầu các bài kiểm tra khác như LSAT khi nộp đơn vào trường luật, GRE hay GMAT cho trường đào tạo kinh doanh, và MCAT cho trường y. Phần lớn chương trình thạc sỹ được giảng dạy trong lớp học và sinh viên cao học phải viết bài nghiên cứu dài gọi là “bài luận thạc sỹ” hoặc hoàn thành một “dự án thạc sỹ”. Trong hai năm đầu của chương trình, hầu hết sinh viên học tiến sỹ sẽ lên lớp và tham dự hội thảo. Ít nhất sẽ dành một năm để nghiên cứu và viết bài luận hoặc luận án. Bài nghiên cứu này phải thể hiện quan điểm, thiết kế hoặc nghiên cứu mới chưa được phát hành trước đây. Đặc điểm của Hệ Thống Giáo Dục Bậc cao của MỹHàng tuần, giảng viên sẽ yêu cầu sinh viên đọc sách giáo khoa và các ấn phẩm khác. Giảng viên sẽ yêu cầu sinh viên cập nhật thông tin qua việc đọc và làm bài tập giúp sinh viên tham gia thảo luận trong lớp và hiểu bài giảng. Một số chương trình cấp bằng cũng yêu cầu sinh viên dành thời gian trong phòng thí nghiệm.
  • Giảng viên là người cho điểm sinh viên tham gia lớp học. Điểm được tính dựa trên:
  • Lớp học có thể có quy mô lớn với hàng trăm sinh viên hoặc sĩ số nhỏ và hội thảo (thảo luận trong lớp) với chỉ một vài sinh viên. Môi trường lớp học tại trường đại học Mỹ rất năng động. Sinh viên sẽ phải chia sẻ kinh nghiệm, tranh luận, tham gia thảo luận trong lớp và thuyết trình trước lớp. Sinh viên quốc tế sẽ nhận thấy đó là những trải nghiệm thú vị nhất trong hệ thống giáo dục Mỹ.
  • Luận án tiến sỹ là cuộc thảo luận và tóm tắt những nghiên cứu hiện tại về một chủ đề. Hầu hết các trường ở Mỹ cấp bằng tiến sỹ đều yêu cầu sinh viên có thể đọc hiểu hai ngôn ngữ và dành phần lớn thời gian “tại một nơi” để vượt qua kỳ thi chấp nhận vào chương trình tiến sỹ và kỳ thi hùng biện về đề tài tiến sỹ.
  • Cấp bậc thứ ba: Sau đại học lấy bằng Tiến sỹ Nhiều trường coi bằng thạc sỹ là bước khởi đầu trước khi học lên bằng PhD (tiến sỹ). Nhưng tại nhiều trường khác, sinh viên có thể học thẳng lên bằng tiến sỹ mà không cần có bằng thạc sỹ. Để lấy bằng tiến sỹ, sinh viên phải dành ba năm hoặc nhiều hơn. Sinh viên quốc tế có thể dành năm đến sáu năm để hoàn thành bằng tiến sỹ.
  • Các chương trình cao học lấy bằng Thạc sỹ thường hoàn thành trong vòng một hoặc hai năm. Ví dụ, chương trình MBA (thạc sỹ quản trị kinh doanh) là một chương trình phổ biến thường hoàn thành trong hai năm. Các chương trình thạc sỹ khác như báo chí, chỉ yêu cầu một năm.
  • Ngoài ra, sinh viên quốc tế ở một số nước chỉ được chấp nhận học ở nước ngoài ở cấp cao học. Sinh viên nên tìm hiểu thông tin liệu có cần kinh nghiệm làm việc ở trong nước trước khi nộp đơn học cao học ở Mỹ.
  • Một đặc điểm riêng của hệ thống giáo dục bậc cao của Mỹ là sinh viên có thể thay đổi ngành học chính bất cứ lúc nào. Việc thay đổi ngành học chính khi học đại học là hoàn toàn bình thường đối với sinh viên Mỹ. Thường sinh viên sẽ phát hiện một ngành nào đó họ xuất sắc hoặc thích thú. Hệ thống giáo dục Mỹ rất linh hoạt. Cần lưu ý là thay đổi ngành học cũng đồng nghĩa với việc phải học nhiều môn hơn, tốn nhiều thời gian và chi phí hơn.
  • Nhiều sinh viên lựa chọn học tại trường cao đẳng cộng đồng để hoàn thành hai năm đầu chương trình học cơ bản. Sinh viên sẽ lấy bằng chuyển tiếp Associate of Arts (AA) sau đó chuyển tiếp lên trường đại học hoặc cao đẳng hệ bốn năm.
  • Sinh viên học cao đẳng hoặc đại học và chưa lấy bằng cử nhân, thì đang học tại bậc đại học. Thường sinh viên mất bốn năm để lấy bằng cử nhân. Sinh viên có thể bắt đầu học lấy bằng cử nhân qua trường cao đẳng cộng đồng hoặc trường đại học bốn năm.
  • Hệ thống Giáo dục Bậc cao tại Mỹ: Cấp Bậc Học
  • Lịch học thường bắt đầu vào tháng Tám và tháng Chín và tiếp tục vào tháng Năm hoặc tháng Sáu. Phần lớn học sinh bắt đầu học vào mùa thu vì vậy sinh viên quốc tế cũng nên bắt đầu học vào thời điểm này. Có nhiều điều thú vị khi bắt đầu một năm học mới, sinh viên có thể kết bạn với nhau vào lúc này khi tất cả cùng bắt đầu cuộc sống mới trong giảng đường đại học. Ngoài ra, sinh viên có thể học nhiều khóa học, bắt đầu từ tháng Tám và liên tục trong cả năm.
  • Tư vấn giáo dục hoặc người hướng dẫn sẽ giúp sinh viên biết liệu có cần học một hoặc hai năm trước khi được tuyển vào đại học hay không. Nếu sinh viên quốc tế học đại học tại Mỹ trước khi đủ điều kiện học đại học trong nước thì chính quyền và nhà tuyển dụng ở một số nước sẽ không chấp nhận kết quả học tập tại Mỹ.
  • Mỗi giảng viên sẽ có yêu cầu khác nhau về đóng góp của sinh viên trong lớp học, nhưng giảng viên khuyến khích sinh viên tham gia thảo luận trong lớp, đặc biệt là các buổi hội thảo trong lớp. Đây là một yếu tố quan trọng để cho điểm sinh viên.
  • Trong quá trình học thường có bài Kiểm tra giữa kỳ.
  • Ngoài ra, sinh viên còn được yêu cầu nộp một hoặc nhiều bài nghiên cứu hoặc báo cáo kỳ, hoặc báo cáo thí nghiệm để đánh giá điểm cuối kỳ.
  • Có thể có bài kiểm tra ngắn hoặc bài đố nhanh. Đôi khi giảng viên sẽ yêu cầu làm bài “đố nhanh” mà không thông báo trước. Các bài kiểm tra dạng này sẽ không chiếm tỷ lệ lớn trong điểm số cuối kỳ, mà chỉ để khuyến khích sinh viên tham gia lớp học và làm bài tập về nhà.
  • Kiểm tra cuối kỳ sẽ được diễn ra vào cuối kỳ học. Mỗi một môn sẽ tương đương một số lượng tín chỉ nhất định hoặc số giờ tín chỉ. Số tín chỉ này tương đương với số giờ sinh viên lên lớp cho môn học đó mỗi tuần. Một môn học có khoảng bốn đến năm tín chỉ. Chuyển tiếpCác hình thức giáo dục bậc cao tại Mỹ2. Trường Cao đẳng hoặc Đại học tư Các trường này được tư nhân điều hành thay vì cơ quan chính quyền bang. Học phí của các trường tư thường sẽ cao hơn học phí trường công lập. Thường trường tư sẽ có quy mô nhỏ hơn so với trường công lập. 3. Trường Cao đẳng Cộng đồng Trường cao đẳng cộng đồng hệ hai năm cấp bằng associate (có thể chuyển tiếp) và các chứng chỉ. Có nhiều loại bằng associate, nhưng điều khác biệt quan trọng nhất là bằng đó có thể chuyển tiếp được hay không. Thường thì có hai loại bằng chính: một là bằng chuyển tiếp lên đại học và hai là chứng chỉ giúp sinh viên bắt đầu làm việc. Bằng chuyển tiếp lên đại học thường là bằng associate nghệ thuật hoặc bằng associate khoa học. Bằng mà không chuyển tiếp được là bằng associate khoa học ứng dụng và chứng nhận hoàn thành chương trình. Nếu sinh viên không có kế hoạch học lên đại học, sinh viên có thể tìm việc tại quê nhà với tấm bằng associate của trường.
  • 4. Học viện Công nghệ Học viện công nghệ là trường đại học hệ bốn năm chuyên về khoa học và công nghệ. Một số trường có chương trình cao học hoặc các khóa đào tạo ngắn hạn.
  • Sinh viên tốt nghiệp trường cao đẳng cộng đồng phần lớn chuyển tiếp lên trường cao đẳng hoặc đại học hệ bốn năm. Vì sinh viên có thể chuyển điểm từ trường cao đẳng cộng đồng, sinh viên có thể hoàn thành lấy bằng cử nhân trong vòng hai năm tiếp theo hoặc hơn. Nhiều trường cũng có chương trình anh ngữ hoặc chương trình tiếng Anh chuyên sâu giúp sinh viên chuẩn bị vào học đại học.
  • Các trường cao đẳng và đại học liên kết với tôn giáo là các trường đại học tư. Thông thường các trường đại học này sẽ tiếp nhận sinh viên từ tất cả các tôn giáo khác nhau. Tuy nhiên, có một số ít trường muốn tiếp nhận sinh viên theo học có cùng tôn giáo với trường.
  • 1. Trường Cao đẳng và Đại học công lập Trường cao đẳng, đại học của bang được hỗ trợ và điều hành bởi chính quyền địa phương hoặc bang. Mỗi bang trong số 50 bang của Mỹ có ít nhất một trường đại học công lập và nhiều trường cao đẳng bang. Nhiều trong số các trường đại học công lập này có tên của bang, hoặc từ “bang” trong tên trường: ví dụ, Trường Đại Học bang Washington và Trường Đại Học Michigan.
  • Nếu sinh viên đăng ký học một trường khác trước khi tốt nghiệp, số tín chỉ mà sinh viên đã học tại trường đại học đầu tiên sẽ được tính vào số điểm tại trường đại học giúp hoàn thành chương trình học. Điều đó có nghĩa là sinh viên có thể chuyển tiếp sang trường khác mà vẫn tốt nghiệp đúng thời gian.
  • Chương trình toàn thời gian ở hầu hết các trường có 12 đến 15 giờ tín chỉ (bốn hoặc năm môn một học kỳ) và sinh viên phải hoàn thành số lượng tín chỉ nhất định trước khi tốt nghiệp. Sinh viên quốc tế phải tham gia khóa học toàn thời gian trong suốt học kỳ.
  • Tín chỉ

Mỗi một môn sẽ tương đương một số lượng tín chỉ nhất định hoặc số giờ tín chỉ. Số tín chỉ này tương đương với số giờ sinh viên lên lớp cho môn học đó mỗi tuần. Một môn học có khoảng bốn đến năm tín chỉ.

Chương trình toàn thời gian ở hầu hết các trường có 12 đến 15 giờ tín chỉ (bốn hoặc năm môn một học kỳ) và sinh viên phải hoàn thành số lượng tín chỉ nhất định trước khi tốt nghiệp. Sinh viên quốc tế phải tham gia khóa học toàn thời gian trong suốt học kỳ.

Chuyển tiếp

Nếu sinh viên đăng ký học một trường khác trước khi tốt nghiệp, số tín chỉ mà sinh viên đã học tại trường đại học đầu tiên sẽ được tính vào số điểm tại trường đại học giúp hoàn thành chương trình học. Điều đó có nghĩa là sinh viên có thể chuyển tiếp sang trường khác mà vẫn tốt nghiệp đúng thời gian.

Các hình thức giáo dục bậc cao tại Mỹ

  1. Trường Cao đẳng và Đại học công lập Trường cao đẳng, đại học của bang được hỗ trợ và điều hành bởi chính quyền địa phương hoặc bang. Mỗi bang trong số 50 bang của Mỹ có ít nhất một trường đại học công lập và nhiều trường cao đẳng bang. Nhiều trong số các trường đại học công lập này có tên của bang, hoặc từ “bang” trong tên trường: ví dụ, Trường Đại Học bang Washington và Trường Đại Học Michigan.
  2. Trường Cao đẳng hoặc Đại học tư Các trường này được tư nhân điều hành thay vì cơ quan chính quyền bang. Học phí của các trường tư thường sẽ cao hơn học phí trường công lập. Thường trường tư sẽ có quy mô nhỏ hơn so với trường công lập.

Các trường cao đẳng và đại học liên kết với tôn giáo là các trường đại học tư. Thông thường các trường đại học này sẽ tiếp nhận sinh viên từ tất cả các tôn giáo khác nhau. Tuy nhiên, có một số ít trường muốn tiếp nhận sinh viên theo học có cùng tôn giáo với trường.

  1. Trường Cao đẳng Cộng đồng Trường cao đẳng cộng đồng hệ hai năm cấp bằng associate (có thể chuyển tiếp) và các chứng chỉ. Có nhiều loại bằng associate, nhưng điều khác biệt quan trọng nhất là bằng đó có thể chuyển tiếp được hay không. Thường thì có hai loại bằng chính: một là bằng chuyển tiếp lên đại học và hai là chứng chỉ giúp sinh viên bắt đầu làm việc. Bằng chuyển tiếp lên đại học thường là bằng associate nghệ thuật hoặc bằng associate khoa học. Bằng mà không chuyển tiếp được là bằng associate khoa học ứng dụng và chứng nhận hoàn thành chương trình.

Sinh viên tốt nghiệp trường cao đẳng cộng đồng phần lớn chuyển tiếp lên trường cao đẳng hoặc đại học hệ bốn năm. Vì sinh viên có thể chuyển điểm từ trường cao đẳng cộng đồng, sinh viên có thể hoàn thành lấy bằng cử nhân trong vòng hai năm tiếp theo hoặc hơn. Nhiều trường cũng có chương trình anh ngữ hoặc chương trình tiếng Anh chuyên sâu giúp sinh viên chuẩn bị vào học đại học.

Nếu sinh viên không có kế hoạch học lên đại học, sinh viên có thể tìm việc tại quê nhà với tấm bằng associate của trường.

  1. Học viện Công nghệ Học viện công nghệ là trường đại học hệ bốn năm chuyên về khoa học và công nghệ. Một số trường có chương trình cao học hoặc các khóa đào tạo ngắn hạn.

Tại Sao Chọn Du Học Mỹ?

Tên của một trường Đại học Mỹ nào đó xuất hiện trong CV của bạn có ý nghĩa gì? Tại sao những nhà tuyển dụng lại để mắt và chú ý tới những bằng cấp học của bạn tại Mỹ?

Điều đó chứng minh rằng tiếng Anh của bạn ở trình độ cao, và có những trải nghiệm quý báu trong môi trường đa văn hóa. Nó cho thấy bạn đã từng học tại một đất nước có nền giáo dục bậc nhất, đồng thời tiếp cận nền công nghệ tiên tiến trên thế giới. Họ cũng sẽ biết rằng bạn đã được cung cấp kiến thức chuyên sâu, có kỹ năng giải quyết tốt vấn đề và làm việc đúng theo chuyên ngành học của bạn.

Bạn sẽ có được nhiều cơ hội hơn

Du học Mỹ và nước ngoài không chỉ mang lại cho bạn những tấm bằng có giá trị, mà những trải nghiệm còn cho thấy bạn là ai. Sống và học tập tại một đất nước khác – đặc biệt nơi mà bạn ít được sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình – đó là một sự thử thách, đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực và một thái độ tích cực. Đôi khi, những phẩm chất này còn có giá trị hơn những tấm bằng.

Nước Mỹ và sự đa dạng

Có rất nhiều trường với nhiều lĩnh vực, chuyên ngành để bạn học. Nếu bạn thích kinh doanh, bạn không chỉ gói gọn trong một ngành học chung chung mà còn có thể lựa chọn nhiều lĩnh vực khác như: kế toán, marketing, kinh doanh quốc tế, quản trị kinh doanh hoặc tài chính (Và còn nhiều hơn thế!). Sự đa dạng này không chỉ có ở hệ Đại học, Sau Đại học mà còn có cả hệ Tiến Sĩ nữa.

Còn một lựa chọn mà Bạn có thể chưa biết đó là theo học tại một trường Cao Đẳng Cộng Đồng hệ 2 năm, và sau đó sẽ là “cánh cửa” cho bạn bước vào trường Đại học. Bạn sẽ hoàn thành 2 năm đầu tiên tại trường Cao Đẳng Cộng Đồng và chuyển tiếp các tín chỉ sang năm 3 và 4 tại các trường Đại học hệ 4 năm. Con đường học tập này rất phổ biến tại Mỹ. Cao đẳng Cộng Đồng thường có mức học phí thấp, lớp học nhỏ và mỗi cá nhân sẽ được quan tâm nhiều hơn. Nhiều trường Cao Đẳng Cộng Đồng còn cung cấp những chương trình đào tạo tiếng Anh chuyên sâu cho các bạn nữa đấy!

Hoặc bạn có thể theo học chương trình 4 năm tại trường Cao đẳng, Đại học. Sự phong phú trong lựa chọn cho thấy được tầm cỡ của nền giáo dục Hoa Kỳ. Bạn có thể theo học tại một trường Đại học Công lập lớn, như Đại học Arkansas hoặc Đại học Nevada, Reno. Nếu bạn thích một không gian riêng biệt với một cộng đồng nhỏ hơn, bạn có thể học tại trường Đại học tư, như Đại học John F. Kennedy, California.

Vì có nhiều sự lựa chọn, nên bạn cần phải biết yếu tố nào là quan trọng đối với bạn. Học phí và sinh hoạt phí ở mỗi trường đều khác nhau. Nếu chi phí là mối quan tâm, bạn nên lựa chọn những trường Đại học công lập hay những trường vùng ngoại ô. Và những trường Cao đẳng, Đại học danh tiếng và tư thục cũng không thể bỏ qua. Với các trường Đại học mà bạn quan tâm, bạn nên tìm xem họ có học bổng hoặc hỗ trợ tài chính hay không. Nhiều trường trao học bổng nhưng bạn phải tìm kiếm và nắm bắt cơ hội đó.

Những tiêu chí khác cũng quan trọng như môi trường sống và văn hóa địa phương. Ví dụ, Bờ Tây có nhiều biển, các hoạt động ngoài trời, người dân thì sống hào phóng và có nhiều cộng đồng người Việt Nam ở khu vực đó. Khu vực Trung Tây có nhiều trường đại học nghiên cứu lớn và người dân thì rất thân thiện và tốt bụng.

Dù chọn nơi đâu, bạn sẽ thấy người Mỹ rất tốt bụng và chào đón sinh viên quốc tế, khuôn viên trường học an toàn, và mỗi vùng của nước Mỹ đều có một nền văn hóa đặc trưng riêng.

Theo học tại Mỹ là sự trải nghiệm tuyệt vời và bạn sẽ được tiếp cận với nhiều cơ hội nghề nghiệp và những người bạn tốt suốt đời.